1. Tổng quan về tình hình hợp tác thương mại song phương Việt Nam – Vương quốc Anh
Nếu tính từ khi Việt Nam - Vương quốc Anh tuyên bố nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược vào năm 2010 đến nay, trao đổi thương mại giữa hai quốc gia tăng trưởng hơn 3 lần. Năm 2010, thương mại hàng hóa song phương đạt hơn 2 tỷ USD.
Việc UKVFTA có hiệu lực từ đầu năm 2021 đã góp phần thúc đẩy giao thương Việt Nam - Vương quốc Anh, dù thời gian này bị tác động nặng nề bởi dịch bệnh, biến động kinh tế, chính trị toàn cầu.
Năm 2021 - năm đầu tiên thực thi UKVFTA, trao đổi thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Vương quốc Anh đạt 6,6 tỷ USD, tăng 17,2% so với năm 2020. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Anh đạt 5,76 tỷ USD, tăng mạnh so với năm trước, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng dệt may, giày dép, thủy sản, điện thoại và linh kiện. Ở chiều ngược lại, nhập khẩu từ Anh đạt khoảng 849 triệu USD, ghi nhận mức tăng hơn 20%.
Năm 2022, do khó khăn chung của thế giới và cả nền kinh tế Anh, thương mại hai chiều giảm, nhưng xuất khẩu của Việt Nam sang Vương quốc Anh vẫn tăng khoảng 1,9%, một số ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam giữ được đà tăng trưởng 2 con số.
Năm 2023, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Vương quốc Anh đạt hơn 7,14 tỷ USD, tăng 4,5% so với năm 2022. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Vương Anh đạt hơn 5,5 tỷ USD, tăng 4,9% so với năm 2022.
Đến năm 2024, thương mại giữa Việt Nam và Vương quốc Anh tiếp tục phục hồi mạnh mẽ, với tổng kim ngạch đạt 8,4 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2023. Tăng trưởng thương mại của Việt Nam với thị trường Anh năm 2024 cao hơn trung bình tăng trưởng thương mại với khu vực EU (16,8%), các nước châu Âu (17,2%) và thế giới (15,4%). Tính đến hết năm 2024 Vương quốc Anh hiện là đối tác xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam tại khu vực châu Âu, sau Hà Lan (13,8 tỷ USD) và Đức (11,7 tỷ USD). Năm 2024, xuất khẩu của Việt Nam sang Vương quốc Anh đạt 7,55 tỷ USD, tăng gần 19%, với sự đóng góp đáng kể từ các nhóm hàng có thế mạnh như điện thoại, máy móc, dệt may, gỗ và thủy sản. Nhập khẩu từ Vương quốc Anh đạt khoảng 849 triệu USD, tăng nhẹ so với năm 2023.
Nhiều nhóm hàng hóa xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam hiện nay đang chiếm thị phần rất tốt, rất tích cực và có sự tăng trưởng liên tục trong hơn 4 năm triển khai UKVFTA như: giày dép chiếm thị phần khoảng 26,6% tổng thị phần giày dép xuất khẩu vào Anh; hạt tiêu chiếm 55,7%; hạt điều tách vỏ cũng là sản phẩm thế mạnh của Việt Nam chiếm xấp xỉ 90%, một số những mặt hàng khác như thủy sản chiếm khoảng hơn 6% thị phần, cà phê 9% hay dệt may chiếm khoảng 6% tại nước bạn....
Quan hệ thương mại Việt - Anh tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng tích cực trong 9 tháng năm 2025, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 6,93 tỷ USD, tăng 6,62% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu sang Anh đạt 6,22 tỷ USD, tăng 9,84%; nhập khẩu từ Anh đạt 715,3 triệu USD, tăng 20,41%; xuất siêu gần 5,5 tỷ USD.
Nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, kim ngạch lớn từ Việt Nam sang Vương quốc Anh là máy móc thiết bị, phụ tùng, máy vi tính và sản phẩm điện tử, giày dép và hàng dệt may... Ở chiều ngược lại, xuất khẩu từ Vương quốc Anh vào Việt Nam tập trung vào các mặt hàng có hàm lượng công nghệ khoa học cao, cũng như nguồn nguyên liệu đầu vào chất lượng cao, như các sản phẩm máy móc, ô tô, hóa chất cơ bản, y tế, dược phẩm…
Trong mối quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư song phương, Hiệp định UKVFTA là động lực rất quan trọng để thúc đẩy hợp tác giữa hai nước với nhiều điểm sáng. Trong 4 năm đầu thực thi Hiệp định UKVFTA, tổng kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng trung bình đạt 9,8%/năm. Riêng xuất khẩu của Việt Nam sang Vương quốc Anh tăng trưởng trung bình hơn 10%/năm.
Về góc độ doanh nghiệp, tỷ lệ tận dụng ưu đãi mẫu chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) của Hiệp định UKVFTA trung bình trên 35%, tỷ lệ này tiếp tục tăng trưởng rất nhanh và mạnh, thậm chí cao hơn các FTA thế hệ mới khác là EVFTA, CPTPP. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam rất quan tâm chủ động trong việc tận dụng ưu đãi thuế quan từ hiệp định này để xuất khẩu vào thị trường Vương quốc Anh.
Tăng trưởng nhập khẩu hàng hóa từ Anh về Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn 2024-2025 trở lại đây là một tín hiệu rất tích cực, thể hiện tính bền vững của thương mại hai chiều. Điều này phản ánh nhu cầu cao của thị trường Việt Nam đối với công nghệ, thiết bị hiện đại và nguyên liệu chất lượng từ Anh quốc. Bên cạnh đấy có thể thấy Hiệp định UKVFTA đóng vai trò then chốt trong việc ổn định chuỗi cung ứng giữa thương mại hai chiều, đặc biệt trong bối cảnh thương mại thế giới rất phức tạp trong khoảng thời gian qua.
2. Tình hình hợp tác năng lượng
Về lĩnh vực năng lượng, với sự thúc đẩy và hỗ trợ mạnh mẽ của Vương quốc Anh trong chương trình đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) và các chương trình hợp tác song phương, Việt Nam đang từng bước hoàn thiện thể chế, tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm, quan tâm đầu tư của quốc tế để chuyển dịch năng lượng, hướng tới mục tiêu đạt trung hòa cacbon vào năm 2050.
3. Tình hình hợp tác đầu tư
Về hợp tác đầu tư, sau hơn 4 năm triển khai UKVFTA, số lượng dự án đầu tư nước ngoài của Vương quốc Anh vào Việt Nam cũng như tổng số vốn tăng trưởng rất tốt. Thời điểm trước khi thực thi Hiệp định UKVFTA, Vương quốc Anh đứng thứ 20 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư FDI vào Việt Nam. Năm 2021, năm đầu tiên thực hiện UKVFTA, Vương quốc Anh có 434 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 3,98 tỷ USD. Hiện nay, đầu tư từ Vương quốc Anh vào Việt Nam đang gia tăng với các lĩnh vực chính bao gồm tài chính-ngân hàng (HSBC, Standard Chartered), năng lượng-dầu khí (Shell, BP), bất động sản, công nghiệp chế biến, chế tạo, và dịch vụ. Tính đến tháng 9/2025, Vương quốc Anh hiện là nhà đầu tư lớn thứ 15, với tổng vốn tích lũy khoảng 4.66 tỷ USD và đang có xu hướng mở rộng hợp tác sang lĩnh vực năng lượng xanh và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam.
4. Cải cách thể chế
Về cải cách thể chế, UKVFTA có hiệu lực cũng góp phần cải cách thể chế, giúp thủ tục hành chính, thủ tục thương mại của Việt Nam minh bạch hơn, qua đó giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp cũng như hỗ trợ dòng hàng dịch vụ tăng trưởng tốt. Để hỗ trợ doanh nghiệp thực thi Hiệp định UKVFTA, Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, như Nghị định 53/2021/NĐ-CP về biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam. Với quy tắc xuất xứ, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 20/NQ-CP năm 2022 về ký công hàm trao đổi với Hàn Quốc để triển khai nguyên tắc cộng gộp xuất xứ theo UKVFTA. Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng ban hành Thông tư 02/2021/TT-BCT quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa trong UKVFTA.
5. Lợi thế và thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Anh
Đặc biệt kể từ ngày 15/12/2024, CPTPP đã chính thức có hiệu lực với Vương quốc Anh, tạo thêm cơ hội cho hàng hóa Việt Nam nhờ có ưu thế nổi trội so với sản phẩm cùng loại từ các quốc gia khác chưa có FTA với Anh như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, hay một số nước Nam Mỹ...
Với hai FTA thế hệ mới đang thực thi là UKVFTA và CPTPP, doanh nghiệp Việt Nam đang có nhiều dư địa khai thác thị trường, để kim ngạch xuất khẩu sang Vương quốc Anh sớm đạt mốc 10 tỷ USD.
Tuy nhiên, thị trường Vương quốc Anh đang đặt ra nhiều hàng rào kỹ thuật thị trường này, như quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh thực phẩm, nhất là đối với nông sản, rất chặt chẽ. Việc thực hiện sử dụng nhãn UKCA thay cho CE đối với sản phẩm công nghiệp; dự luật về bảo vệ môi trường, chống suy thoái và mất rừng… sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu các sản phẩm gỗ, cà phê, cao su, dầu thực vật, đậu tương…
Giốn như nhiều nước châu Âu, Vương quốc Anh xây dựng bộ tiêu chuẩn về phát triển bền vững đối với hàng hóa nhập khẩu, đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững được cho là nắm giữ lợi thế cạnh tranh lớn để doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường Anh bền vững.
Do đó, việc tuân thủ các quy định, trong đó có quy định về phát triển bền vững, minh bạch chuỗi cung ứng hay những tiêu chuẩn về quyền con người, quyền về môi trường là yêu cầu quan trọng. Doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập các thị trường phát triển, trong đó có thị trường Vương quốc Anh phải chú trọng những yêu cầu tiêu chuẩn này.
Nguồn: Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương
